Mỹ trừng phạt Nga: Tác dụng phụ nguy hiểm hơn đòn chính, Washington liệu có thể mạnh tay?

Sự đe dọa của Mỹ về khả năng “bóp nghẹt” nền kinh tế Nga vẫn là một chiến thuật đem lại những hiệu quả mơ hồ.

Tại sao nhiều thất bại hơn thành công?

Các biện pháp trừng phạt mà Mỹ dành cho Nga, chẳng hạn như nhằm vào việc cắt giảm xuất khẩu dầu của Moscow, có tác dụng phụ đôi khi “nguy hiểm” chẳng kém mục tiêu chính - gây tổn hại cho các đồng minh châu Âu. Đó thật sự là một gói công cụ hạn chế.

Khi các binh sĩ Nga tiến vào Ukraine và sáp nhập bán đảo Crimea (năm 2014), chính quyền Tổng thống Obama đã ra hàng loạt đòn trừng phạt kinh tế, từ đóng băng tài sản, cấm làm ăn với công ty Mỹ và cấm nhập cảnh Mỹ..., sau cùng là áp đặt các biện pháp trừng phạt đối với hàng trăm quan chức và doanh nghiệp Nga, đồng thời hạn chế đầu tư và thương mại trong các lĩnh vực quan trọng của quốc gia này, như tài chính, dầu mỏ và quân sự.

Giờ đây, với việc quân đội Nga được cho là đang tập trung đông đảo ở biên giới với Ukraine, Cố vấn an ninh quốc gia của Nhà Trắng tiết lộ rằng, Tổng thống Biden đã nhìn thẳng vào mắt Tổng thống Nga Putin trong cuộc gặp trực tuyến mới đây và nói với ông ấy rằng, “những điều chúng tôi đã không làm trong năm 2014, chúng tôi đã chuẩn bị phải làm bây giờ”.

Tuy nhiên, liệu các biện pháp trừng phạt kinh tế khắc nghiệt hơn từ Mỹ có đủ thuyết phục Nga đứng ngoài vấn đề với Ukraine hay không?

Trong lịch sử, các biện pháp trừng phạt kinh tế đối với Nga có một “thành tích hỗn hợp”, với nhiều thất bại hơn là thành công. Và đôi khi, những hành động có thể gây thiệt hại lớn nhất cho nền kinh tế Nga - như cố gắng chặn đứng đường xuất khẩu dầu – thì tức là cũng gây khó khăn thậm chí có phần lớn hơn cho các đồng minh của Mỹ ở châu Âu.

Theo Jeffrey Schott, một thành viên cấp cao tại Viện Kinh tế Quốc tế Peterson, người đã dành nhiều thập niên nghiên cứu về vấn đề này: “Chúng tôi đã chứng kiến điều này lặp đi lặp lại, các biện pháp trừng phạt gặp khó khăn trong việc thực sự cưỡng chế thành công các chính sách lớn và buộc nó phải thay đổi”.

“Cơ hội đạt được thành công phải đi kèm các điều kiện, một là quốc gia có đòn bẩy kinh tế đáng kể so với quốc gia kia và hai là, mục tiêu của chính sách bị hạn chế”, ông Schott phân tích - nhưng cả hai điều kiện đó đều không thực sự đầy đủ và khó để áp dụng được trong trường hợp này.

Chính Tổng thống Putin đã nói rõ rằng, ông coi các động thái của Nga ở Ukraine là vấn đề an ninh quốc gia. Và bên ngoài ngành công nghiệp dầu mỏ, thì thương mại quốc tế và đầu tư của Nga đều đã bị hạn chế, đặc biệt là ở Mỹ.

Với sự can thiệp trực tiếp hoặc gián tiếp, các quan chức chính quyền Mỹ đã liệt kê một loạt phương án bao gồm, trừng phạt tài chính những người ủng hộ thân cận nhất của ông Putin, chặn việc chuyển đổi đồng Ruble thành USD và gây sức ép buộc Đức ngăn dự án Dòng chảy phương Bắc 2 (Nord Stream 2) ngay khi nó chuẩn bị hoạt động.

Về cơ bản, các công đoạn cuối cùng của Dự án Nord Stream 2 đã hoàn thành, nhưng nó đang phải chờ cơ quan quản lý năng lượng của Đức phê duyệt, trước khi có thể bắt đầu hoạt động.

Giờ đây, bất kỳ yêu cầu nào từ Washington đều được cho sẽ dẫn đến những thay đổi ở Berlin. Tân Thủ tướng Đức Olaf Scholz và nội các mới của ông vẫn chưa đưa ra bất kỳ tuyên bố dứt khoát nào về Dự án dẫn khí đốt nhạy cảm và không kém phần quan trọng này.

Tuy nhiên, dự trữ khí đốt ở châu Âu hiện đang ở mức thấp bất thường và có những lo lắng về tình trạng thiếu hụt, giá tăng cao khi mùa Đông đã đến rất gần.

Nga hiện là nhà cung cấp hơn một phần ba lượng khí đốt cho châu Âu thông qua đường ống Nord Stream hiện có và bị cáo buộc thường cố tình hạn chế nguồn cung, như một cách gây sức ép buộc Đức phải phê duyệt Dự án Nord Stream 2.

Washington có thể áp đặt các biện pháp trừng phạt sâu rộng hơn đối với các công ty và ngân hàng cụ thể ở Nga, nhằm can thiệp mạnh tay hơn vào dòng vốn đầu tư, cũng như quá trình sản xuất năng lượng. Nhưng giá phải trả cho lệnh trừng phạt khắt khe đối với một nhà cung cấp khí đốt tự nhiên khổng lồ như Gazprom, là Nga có thể trả đũa bằng cách cắt giảm việc giao hàng cho châu Âu.

Chuyên gia Jeffrey Schott nhận định, “động thái đó sẽ làm tổn thương Nga rất nhiều, nhưng cũng làm tổn thương châu Âu không kém".

Về việc gia tăng áp lực đối với Nga, theo gợi ý của Giám đốc chương trình Nga-Âu-Á tại tổ chức tư vấn Chatham House - James Nixey, việc siết chặt tài chính của các nhà tài phiệt đứng sau trợ giúp ông Putin duy trì quyền lực có thể là một cách gây ra nhiều áp lực có mục tiêu hơn.

Giới quan sát cho rằng, Nga, Mỹ và Liên minh châu Âu (EU) mới đây đều nói đến việc sử dụng các biện pháp trừng phạt kinh tế. Nhưng thực ra, tất cả đều đang "chơi trò chơi phỏng đoán" để theo đuổi các mục tiêu chính sách của mình.

Nga đang triển khai quân đội ở biên giới và đồng thời kiên quyết đảm bảo rằng Ukraine sẽ không gia nhập NATO, trong khi phương Tây cảnh báo sẽ có những hậu quả kinh tế đau đớn nếu một cuộc xâm lược xảy ra.

Mỹ vẫn còn “đòn” đặc biệt?

Tuy nhiên, vẫn còn một đòn tấn công quan trọng mà phương Tây "giấu trong tay áo"? Đây là biện pháp cực đoan nhất - loại Nga khỏi hệ thống thanh toán quốc tế được gọi là SWIFT - để chuyển tiền đi khắp thế giới, như đã từng làm đối với Iran. Năm 2019, Thủ tướng Nga lúc bấy giờ là Dmitri A. Medvedev đã gọi mối đe dọa như vậy như “một lời tuyên chiến”.

Bà Maria Shagina, chuyên gia về lệnh trừng phạt của Trung tâm Carnegie Moscow đã ra một báo cáo kết luận rằng, một động thái như vậy sẽ tàn phá Nga, ít nhất là trong ngắn hạn: “Việc chặn Nga khỏi SWIFT sẽ chấm dứt tất cả các giao dịch quốc tế, kích hoạt sự biến động tiền tệ và khiến các dòng vốn lớn chảy ra khỏi nước Nga”.

Xem xét lại trường hợp của Iran, Mỹ từng gây sức ép buộc SWIFT ngắt kết nối với các ngân hàng Iran. Hậu quả là Tehran mất gần phân nửa doanh thu từ xuất khẩu dầu mỏ và 1/3 kim ngạch ngoại thương.

Theo bà Shagina, ảnh hưởng xảy ra cho kinh tế Nga cũng sẽ "tương đương", bởi hơn 1/3 doanh thu liên bang của nước này phụ thuộc vào xuất khẩu dầu, khí tự nhiên.

Hệ thống SWIFT có trụ sở tại Bỉ, xử lý các khoản thanh toán quốc tế giữa hàng nghìn ngân hàng tại hơn 200 quốc gia.

Để đối phó đòn tấn công này, từ năm 2014, Nga đã từng bước bảo vệ hệ thống tài chính nội địa, nhằm giảm bớt mối đe dọa bằng cách phát triển hệ thống riêng để xử lý các giao dịch thẻ tín dụng nội địa. Nhưng đó lại là một biện pháp khác, cũng sẽ ảnh hưởng đến các nước châu Âu nhiều hơn Mỹ, vì họ đang làm ăn nhiều hơn với Nga.

Một số nhà phân tích kinh tế và chính trị đã nói, hạn chế quyền truy cập vào SWIFT sẽ là biện pháp cuối cùng được dùng đến. Arie W. Kruglanski, Giáo sư tâm lý học tại Đại học Maryland, cho rằng, khi đánh giá tác động của các lệnh trừng phạt, các nhà kinh tế thường bỏ qua khía cạnh tâm lý cốt yếu.

"Các biện pháp trừng phạt có thể phát huy tác dụng khi các nhà lãnh đạo quan tâm đến vấn đề kinh tế hơn bất kỳ điều gì khác”, nhưng ông Kruglanski không nghĩ rằng, nhà lãnh đạo Nga rơi vào trường hợp đó. Bởi theo ông, những người theo chủ nghĩa chuyên chế mạnh mẽ như ông Putin thường có con đường riêng, trong đó, các mối đe dọa nhiều khả năng làm gia tăng sự phản đối, hơn là khuyến khích sự thỏa hiệp.

Nhìn nhận về các đòn trừng phạt Nga liên quan đến Ukraine, chuyên gia Nixey của Chatham House cũng cho rằng, tác động không đáng kể.

“Rất nhiều điều mà người Nga đã học được để sống chung với các lệnh trừng phạt, một phần là do việc triển khai thường chậm chạp hoặc kém hiệu quả và quan trọng là các tác động lên nền kinh tế Nga có thể kiểm soát được”, ông nói thêm.

Tuy nhiên, thành công có thể được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau. Theo như ông Nixey, các biện pháp trừng phạt hồi năm 2014 rất có thể đã ngăn Điện Kremlin can thiệp quân sự thêm vào Ukraine. Nó chắc chắn không thể buộc Nga đảo ngược việc sáp nhập Crimea, nhưng có thể đã thuyết phục ông Putin không sử dụng các động thái quyết đoán hơn - ít nhất là cho đến thời điểm hiện tại.